Công ty chấm dứt hợp đồng trái pháp luật có được bồi thường?

Chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Tôi xin nghỉ ốm 10 hôm nhưng hết ngày nghỉ ốm tôi nghỉ thêm một ngày không báo cho công ty. Đến hôm sau, tôi đi làm bình thường thì hết giờ công ty báo cho tôi nghĩ hẳn. Như vậy có gọi là chấm dứt hợp đồng trái pháp luật không. Cho tôi hỏi, nếu như công ty cho tôi nghỉ việc không có lý do chính đáng thì tôi có được bồi thường không?



Tư vấn hợp đồng lao động:chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Chào bạn,cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Tổng đài tư vấn pháp luật. Đối với câu hỏi công ty chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo Điều 126 Bộ luật Lao động 2012 quy định:

“Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Ngoài ra, căn cứ vào Khoản 1 Điều 31 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định:

“Điều 31. Kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc

1. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.”

Như vậy, nếu tổng số ngày bạn tự ý bỏ việc là 5 ngày trong 1 tháng hoặc 20 ngày trong 1 năm thì công ty có thể tiến hành kỷ luật sa thải. Còn trong trường hợp, số ngày nghỉ không xin phép chưa đến 5 ngày trong 1 tháng, 20 ngày trong 1 năm mà công ty sa thải bạn vì lý do tự ý bỏ việc là không đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, để tiến hành kỷ luật sa thải, công ty còn phải thực hiện đầy đủ trình tự theo quy định của pháp luật. 

Căn cứ tại Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP:

“Điều 30. Trình tự xử lý kỷ luật lao động

Trình tự xử lý kỷ luật lao động tại Điều 123 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động gửi thông báo bằng văn bản về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, người lao động ít nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cuộc họp.

2. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động.

3. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản và được thông qua các thành viên tham dự trước khi kết thúc cuộc họp. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham dự cuộc họp quy định tại Khoản 1 Điều này và người lập biên bản. Trường hợp một trong các thành phần đã tham dự cuộc họp mà không ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do.”

Như vậy, công ty không thông qua việc họp xử lý kỷ luật đã tiến hành sa thải là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Tổng đài tư vấn trực tuyến 24/7: 1900 6172

Trong trường hợp công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì công ty sẽ phải bồi thường cho bạn căn cứ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động 2012 như sau:

+) Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

+) Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

+) Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

+) Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

+) Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Ngoài ra, về vấn đề chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bạn có thể tham khảo thêm bài viết:

Nếu có vấn đề gì vướng mắc. Bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn trực tuyến 24/7: 1900 6172 để được tư vấn trực tiếp


Chia sẻ bài viết:

Bài liên quan

CÓ THỂ BẠN CHƯA XEM

Tổng đài tư vấn 19006172 trực thuộc công ty luật TNHH Tuệ Minh

Lưu ý: Để buổi làm việc được hiệu quả, quý khách vui lòng gọi điện trước để chúng tôi tư vấn về hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị và thu xếp lịch hẹn.

Gọi ngay