Có thể đòi lại đất là tài sản chung chồng tự ý bán?

Nội Dung Câu Hỏi: Gia đình tôi có một bãi đất không có nhu cầu sử dụng trong thời gian tôi đi làm ăn xa ở nước ngoài nên chồng tôi ở nhà có bán cho anh B ở gần nhà bãi đất đó mà tôi không hề biết gì. Giờ tôi về nước tôi biết và xin chuộc lại anh B đồng ý cho chuộc lại nhưng anh B lại bắt gia đình tôi phải trả số tiền lãi từ năm đó cho đến bây giờ. Tôi xin hỏi luật sư giờ gia đình tôi phải làm sao? Gia đình tôi có lấy lại được bãi đất và có phải trả số tiền lãi đó cho anh B không? Xin luật sư cho tôi lời khuyên. Tôi xin cảm ơn!



co-the-doi-lai-dat-la-tai-san-chung-chong-tu-y-banTư vấn pháp luật đất đai:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Tư vấn An NamVới trường hợp của bạn, Tư vấn An Nam xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc vợ bạn tự ý bán đất mà không hỏi ý kiến của bạn.

Do bạn không nói rõ, mảnh đất này là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của chồng bạn nên chia 2 trường hợp như sau:

+) Nếu đây là tài sản riêng của chồng bạn thì chồng bạn có toàn quyền quyết định đối với tài sản này. Do đó, việc bán đất cho anh B là ý chí tự nguyện của chồng bạn thì bạn không thể đòi lại đất.

+) Nếu là tài sản chung của vợ chồng thì về nguyên tắc muốn bán mảnh đất này phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, trong thời gian bạn đi nước ngoài chồng bạn ở nhà tự ý bán đất là trái với quy định của pháp luật hôn nhân gia đình. Cụ thể:

Căn cứ Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng:

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản“.

Như vậy, chồng bạn đã tự mình xác lập giao dịch với người thứ ba (anh B) mà không có sự thỏa thuận bằng văn bản của bạn thì giao dịch này là vô hiệu. Bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có mảnh đất đó để yêu cầu đòi lại mảnh đất đó. Khi đó, hai bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền (khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự 2005).

Thứ hai, về việc lấy lại bãi đất và có phải trả số tiền lãi cho anh B không.

Trong trường hợp của bạn, chúng tôi xét 02 trường hợp như sau:

Trường hợp 01: Chồng bạn bán mảnh đất cho anh B là hợp pháp. Theo quy định của pháp luật, quan hệ mua bán của chồng bạn và anh B đã được xác lập, anh B đã trả tiền và gia đình bạn đã giao đất nên hai bên có quyền khai thác, sử dụng và hưởng hoa lợi – lợi tức từ tài sản đó.

co-the-doi-lai-dat-la-tai-san-chung-chong-tu-y-ban

Tổng đài tư vấn đất đai trực tuyến 24/7: 19006172

Chính vì vậy, anh B yêu cầu gia đình bạn trả khoản tiền lãi trên số tiền bán đất khi chuộc lại (thực chất là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) mảnh đất đó là không đúng. Tuy nhiên, đây là quan hệ dân sự nên gia đình bạn và anh B có thể thỏa thuận với nhau về những điều khoản trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phù hợp với thực tế của mỗi bên.

Trường hợp 02: Việc mua bán mảnh đất này là không hợp pháp. Khi đó, hợp đồng mua bán giữa chồng bạn và anh B vô hiệu. Bởi vậy, chồng bạn và anh B cần khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo bài viết: Cấp giấy chứng nhận sử dụng đất khi chỉ có văn bản mua bán đất

Mọi vấn đề, thủ tục còn vướng mắc xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn trực tuyến 24/7: 1900 6172 để được tư vấn, giải đáp trực tiếp.

Chia sẻ bài viết:

Recent Posts

CÓ THỂ BẠN CHƯA XEM

TRUNG TÂM TƯ VẤN AN NAM

Lưu ý: Để buổi làm việc được hiệu quả, quý khách vui lòng gọi điện trước để chúng tôi tư vấn về hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị và thu xếp lịch hẹn.

+ Gửi câu hỏi