Các trường hợp không được chấm dứt HĐLĐ năm 2019

Các trường hợp không được chấm dứt HĐLĐ năm 2019

Các trường hợp không được chấm dứt HĐLĐ năm 2019. Xin chào tổng đài tư vấn, xin hỏi: Theo quy định của Luật lao động mới nhất thì người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong những trường hợp nào? Có quy định nào riêng đối với lao động nữ không? Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải bồi thường như thế nào đối với người lao động. Có quy định nào về việc được hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không? Mong tổng đài tư vấn giúp tôi, tôi xin cảm ơn.



Các trường hợp không được chấm dứt HĐLĐ

Dịch vụ tư vấn Luật Lao động trực tuyến 24/7: 1900 6172

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Tổng đài tư vấn. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, các trường hợp NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Căn cứ theo quy định tại Điều 39 Bộ Luật lao động năm 2012 như sau:

“Điều 39. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”

Theo đó, nếu người lao động thuộc một trong các trường hợp theo quy định trên thì người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Thứ hai, trường hợp NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lao động nữ

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 thì:

“Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.”

Như vậy

Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành thì người sử dụng lao động sẽ không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nữ vì lý do:

+) Kết hôn;

+) Mang thai;

+) Nghỉ thai sản;

+) Nuôi con dưới 12 tháng tuổi,

Trừ trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động

Thứ ba, nghĩa vụ của NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái quy định

Căn cứ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Như vậy, trường hợp NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ trái quy định pháp luật thì phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định trên đối với NLĐ.

Thứ tư, về việc hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ:

Căn cứ theo quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động năm 2012 thì:

“Điều 40. Huỷ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Mỗi bên đều có quyền huỷ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý.”

Theo đó, trường hợp NSDLĐ muốn hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì trước khi hết thời hạn báo trước phải thông báo bằng văn bản và phải được NLĐ đồng ý.

Trên đây là bài viết về vấn đề các trường hợp không được chấm dứt HĐLĐ năm 2019. 

Nếu còn vướng mắc bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn trực tuyến 24/7: 19006172 để được tư vấn, giải đáp trực tiếp.

->Trợ cấp thôi việc khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn

Chia sẻ bài viết:

Recent Posts

CÓ THỂ BẠN CHƯA XEM

Tổng đài tư vấn 19006172 trực thuộc công ty luật TNHH Tuệ Minh

Lưu ý:Để buổi làm việc được hiệu quả, quý khách vui lòng gọi điện trước để chúng tôi tư vấn về hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị và thu xếp lịch hẹn.

+ Gửi câu hỏi
Call Now Button