Xe đạp điện và xe máy điện khác nhau như thế nào?

Xe đạp điện và xe máy điện khác nhau như thế nào?

Hôm trước tôi có đi xe đạp điện vượt đèn đỏ và không đội mũ bảo hiểm nên bị cảnh sát giao thông giữ lại. Phía cảnh sát xử phạt với lỗi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu nhưng đối với xe máy điện. Tôi bảo đây là xe đạp điện vì xe tôi có bàn đạp để khi hết điện xe vẫn đi được. Vậy làm cách nào để biết đây là xe đạp điện và xe máy điện khác nhau thế nào. Và mức phạt của tôi là bao nhiêu? Có được phép nộp phạt tại chỗ không?


xe đạp điện và xe máy điện khác nhau Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Tổng đài tư vấn. Đối với vấn đề: Xe đạp điện và xe máy điện khác nhau như thế nào, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, quy định về việc phân biệt xe đạp điện và xe máy điện

Căn cứ tại Khoản 1.3 Quy chuẩn Việt Nam 68:2013/BGTVT quy định:

“1.3 Giải thích từ ngữ

Xe đạp điện – Electric bicycles : là xe đạp hai bánh, được vận hành bằng động cơ điện một chiều hoặc được vận hành bằng cơ cấu đạp chân có trợ lực từ động cơ điện một chiều, có công suất động cơ lớn nhất không lớn hơn 250 W, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và có khối lượng bản thân (bao gồm cả ắc quy) không lớn hơn 40 kg.”

Bên cạnh đó, căn cứ tại Điều 3 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. e) Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện)”

Như vậy, có thể xác định xe đạp điện thực chất là xe đạp máy. Theo đó, loại xe này có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không quá 25km/h và khi tắt máy có thể đạp xe đi được.

Căn cứ tại Điều 3 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Lĩnh vực giao thông đường bộ

d) Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h”

Như vậy

Có thể dựa vào vận tốc thiết kế của xe để xác định là xe đạp điện hay xe máy điện. Bên cạnh đó, cũng có thể dựa vào việc khi tắt máy có thể đạp xe để đi không. Theo như bạn trình bày, xe của bạn có bàn đạp, có nghĩa là khi xe tắt máy, vẫn có thể đạp xe đi tiếp. Vì vậy, được xác định là xe đạp điện. Do đó, cảnh sát giao thông xác định xe bạn là xe máy điện là không đúng.

–>Thế nào là xe đạp máy và xe máy điện?

Thứ hai, về mức phạt khi không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 8 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

2. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

h) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.”

Như vậy, xe đạp điện không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ bị xử phạt với mức 60.000- 80.000 đồng.

Thứ ba, về mức phạt khi điều khiển xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

4. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

d) Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;”

Như vậy, theo quy định này thì trường hợp bạn điều khiển xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

–>Đi xe đạp điện có phải đội mũ bảo hiểm không?

xe đạp điện và xe máy điện khác nhau

Luật sư tư vấn trực tuyến về Giao thông đường bộ: 19006172

Thứ tư, quy định về việc nộp phạt tại chỗ

Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau:

“Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân; 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.”.

Như vậy, theo quy định hiện hành, trường hợp xử phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và không phải được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì không cần lập biên bản. Trường hợp bạn điều khiển xe đạp điện tham gia giao thông vi phạm hai lỗi vượt đèn đỏ và không đội mũ bảo hiểm thì tổng mức phạt của bạn là từ 160.000 đồng đến 280.000 đồng. Do đó, trường hợp bạn không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thì mức phạt trung bình của bạn là 220.000 đồng thì bạn được phép nộp phạt tại chỗ.

Mọi thắc mắc liên quan đến xe đạp điện và xe máy điện khác nhau như thế nào, xin vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn dịch vụ Luật giao thông đường bộ 24/7: 1900 6172 để được trực tiếp tư vấn, giải đáp.

–>Xe đạp điện xe máy điện có phải đi làm thủ tục đăng ký xe không?

Chia sẻ bài viết:

Bài liên quan

CÓ THỂ BẠN CHƯA XEM

Tổng đài tư vấn 19006172 trực thuộc công ty luật TNHH Tuệ Minh

Lưu ý:Để buổi làm việc được hiệu quả, quý khách vui lòng gọi điện trước để chúng tôi tư vấn về hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị và thu xếp lịch hẹn.

+ Gửi câu hỏi
Call Now Button